Biên khảo

sachbutxua

.

KIM VÂN KIỀU TRUYỆN LÀ TỔNG THỂ NHỮNG BÀI BÌNH GIẢNG CHO TÁC PHẨM ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH.

 

Phần 2:

GIẢI TỎA NHỮNG VẤN ĐỀ – tt

Bài 3

 

Trong phần trước, chúng ta đã bàn về hai chữ “tài nhân”.

Giờ là lúc cần xét đến chữ “TRUYỆN (傳).

Điều cần làm rõ là chữ truyện (傳) trong Hán văn cổ có nghĩa khác hẳn với nghĩa chữ “truyện” mà người Việt Nam vẫn dùng:

* “Truyện 傳” là một thể văn viết về tiểu sử một nhân vật, có từ giữa đời Hán. Khi viết bộ Sử Trung Quốc, Tư Mã Thiên dùng hai chữ “tiểu truyện” để nói về tiểu sử một nhân vật.

Nếu là một nhân vật quan trọng thì Tư Mã Thiên dùng hai chữ “liệt truyện”, chẳng hạn như “Bá Di liệt truyện”. Còn khi nói đến Khổng Tử, thì Tư Mã Thiên lại dùng hai chữ “Thế gia”.

* Bộ Tứ Thư Ngũ Kinh của Trung Hoa gồm 9 cuốn sách cơ bản nhất của Nho giáo được viết cô đọng, súc tích. Thế nên người đời sau đã viết sách giải thích bộ Tứ Thư Ngũ Kinh. Sách giải thích đó gọi là truyện.

* Khi Kinh Xuân Thu ra đời, cũng có ba người viết sách giải thích, gọi là “tam truyện”:

– Công Dương Cao viết “Công Dương Truyện”.

– Công Dương Xích viết “Cốc Dương Truyện”.

– Tả Khâu Minh viết “Tả Truyện”.

* Khi viết mười bài Thập dực giải thích bộ kinh dịch của Phục Hy, Văn Vương, thì Khổng Tử cũng dùng chữ “truyện”:

– Hệ từ (thượng, hạ) truyện

– Thuyết quái truyện
– Tự quái truyện
– Tạp quái truyện
– Tứ quái truyện

* Ngoài ra, chúng ta cũng biết Thoán truyện, Dịch truyện… Cũng đều là sách giải thích.

* Liệt nữ truyện: sách giảng dạy cách làm gái ngoan, gái hiền.

Như vậy, danh từ truyện trong cổ văn Trung Hoa có 2 nghĩa:

1- Tóm lược tiểu sử một người, một danh nhân, một thế gia.

2- Là một loại sách ghi chép những lời giảng giải cho kinh, thư, luận, lục… của các bậc thầy, của tiền hiền để lại.

Dù mang nghĩa nào, thì chữ “truyện 傳” trong Hán văn vẫn khác xa nghĩa chữ truyện mà người Việt Nam vẫn dùng.

Ở Việt Nam, chúng ta thường hay nghe nhắc đến hai chữ “truyện Tàu”. Có rất nhiều bộ truyện Tàu

Tam quốc chí; Tam hạ Nam Đường, Tây Du ký; Thuyết Đường diễn nghĩa; Phi Long diễn nghĩa; Đông du Bát tiên, Nam Du Huê Quang; Bắc du Chơn võ; Hồng Lâu Mộng, Kim Bình Mai; Nhục bồ đoàn…

Tiệt nhiên chẳng có bộ nào mà tựa đề có kèm theo chữ “Truyện 傳”.

Cho đến tận nửa sau của thế kỷ XIX, cụ Đồ Chiểu khi sáng tác Lục Vân Tiên cũng dùng mấy chữ ” Truyện Tây Minh” với chữ “truyện” có nghĩa là giải thích, giảng giải.

Và cũng phải đến ngót một thế kỷ nữa, Trần Văn Chánh mới đưa “truyện” vào trong tự điển với 3 nghĩa như sau:

① Truyện 傳 (tác phẩm văn học, tiểu thuyết): 《水滸傳》Truyện Thuỷ hử;

② Truyện 傳 (sách giải thích kinh văn): 經傳 Kinh truyện.

③ Truyện ký, tiểu sử: 興道大王傳 Tiểu sử Hưng Đạo Đại Vương; 自傳 Tiểu sử, tự truyện;

Xuân Thu Tả thị truyện” 春秋左氏傳 họ Tả giải nghĩa kinh Xuân Thu.

9. (Danh)Văn kể chuyện. ◎Như: “Liệt nữ truyện” 列女傳 chuyện các gái hiền.
Điền Đan truyện 田單傳)
( Trích từ nguồn wikipedia)

Điều này có nghĩa là gì?

Nó xác thực rằng một nghĩa mới của chữ Truyện (傳) là

Truyện (傳)”: tác phẩm văn học, tiểu thuyết…
đã được tái du nhập từ Việt Nam sang Trung Hoa. Trước đó, người Trung Hoa không hề dùng chữ ” truyện 傳” với nghĩa này.

Chúng ta đọc lại chiếu chỉ của vua Minh Mạng, khi nhà vua tứ ân ban tên KIM VÂN KIỀU cho ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH, thì cái tên KIM VÂN KIỀU TRUYỆN có nghĩa là gì? Nếu hiểu đúng theo Hán văn, nó có nghĩa là sách giảng giải KIM VÂN KIỀU, đơn giản như vậy thôi. “Truyện” mang nghĩa là giảng giải.

Phạm Quý Thích cũng đã viết Kim Vân Kiều Lục sau khi đọc ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH của Nguyễn Du Chính chữ Lục này mới mang nghĩa là “truyện” là theo cách hiểu của người Việt Nam.

Đó cũng có thể là lý do sau kỳ tổng thuyết, bởi vì chiếu chỉ ban tên KIM VÂN KIỀU TRUYỆN ( truyện thơ) cho ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH mà KIM VÂN KIỀU LỤC cũng đổi lại thành Kim Vân Kiều truyện ( văn xuôi).

Cũng theo nhà nghiên cứu Lê Nghị, từ bản văn bản tiếng Pháp mà ông Abel đệ trình cho viện Hàn lâm Pháp quốc, thì vào năm 1884 ông Trương Minh Ký cũng chỉ giao cho Abel quyển KIM VÂN KIỀU LỤC, nó có phải là tàng thư mang mã số A953 hiện thời mà người ta hay nhắc đến hay không?

Rốt cục, khi nhìn lại những tiểu thuyết của Trung Hoa, kể cả những tác phẩm từ xưa cho đến những tác phẩm được viết vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, chúng ta thấy một điểm chung:

– Tây Sương ký, sao tác giả không đặt tên là Tây Sương Truyện!?

– Kim Bình Mai, tại sao không phải là Kim Bình Mai Truyện!?

Sách thuộc thể loại văn học, tiểu thuyết chẳng có bộ nào có tên đặt kèm với chữ “truyện 傳 ” cả.

Thế nhưng, họ nhất quyết là một người Trung Hoa vào thế kỷ 16 đã viết KIM VÂN KIỀU TRUYỆN.

Nên gọi là hài hước hay là trơ trẽn đây…!?

.

( còn tiếp)

.

Đỗ Phú

( bài viết sử dụng một số tư liệu từ Wikipedia)

 

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sống không cạn chén trọn tình. Chết ai tri kỷ rượu nghiêng rưới mồ? ...... Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Đối tửu - Nguyễn Du)