Biên khảo

 

ĐTTT Kiều Oánh Mậu 1902

 

KIM VÂN KIỀU TRUYỆN LÀ TỔNG THỂ NHỮNG BÀI BÌNH GIẢNG CHO TÁC PHẨM ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH.

 

Phần 2

GIẢI TỎA NHỮNG VẤN ĐỀ – tt

Bài 2

Phần trên, khi lần về cuộc tổng thuyết do vua Minh Mạng khởi xướng, chúng ta đã xác định được hai điểm chính như sau:

– Nhà vua cùng các văn thần, nhà nho trong nước thống nhất cách bình giảng Đoạn Trường Tân Thanh, loại bỏ những nội dung, tình tiết có thể gây bất lợi cho triều chính.

– Triều đình muốn định hướng cách hiểu ĐTTT theo thuyết Tài mệnh tương đố. Những chuyện thương tâm trong nhân gian xảy đến cho ai đó là do MỆNH. Mệnh số an bài, không thể trốn tránh, cũng không thể phản kháng, chỉ có thể cam chịu.

Và để nhất quán cách hiểu, cuộc tổng thuyết phải có nội dung bình giảng theo đúng các tiêu chí đã nêu.

Kết quả là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN, KIM VÂN KIỀU LỤC văn xuôi và danh xưng Thanh Tâm Tài Tử xuất hiện. Danh xưng này được ghi nhận bằng văn bản vào năm 1830.

Về bút hiệu Thanh Tâm Tài Tử là của một cá nhân hay là của một nhóm người, nhà nghiên cứu Lê Nghị đã có kiến giải, đồng thời cũng đưa ra các cứ liệu, xác quyết rằng đó là bút hiệu chung của nhóm bình giảng ĐTTT.

Danh xưng Thanh Tâm Tài Tử này cũng là điều mà chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng. Danh xưng này có hai cách hiểu nghĩa:

1- Thanh Tâm Tài Tử: người có tâm thanh bạch, trong sáng.

2- Thanh Tâm Tài Tử: người học theo, nối chí của Thanh Hiên.

* Xét cách hiểu thứ nhất:

Thanh Tâm Tài Tử: người có tâm thanh bạch, trong sáng…

Người tự xưng là “tài tử”, tức tự nhận mình là người không chuyên, không thạo nghề. Nghĩa này của hai chữ “tài tử” đã tồn tại từ trước đó và cho đến thời đại của chúng ta vẫn mang nghĩa này. Cụm chữ “đàn ca tài tử” mà chúng ta dùng để nói về những nghệ sĩ không chuyên trong các thôn xóm là minh chứng.

Vào thời đó, tầng lớp sĩ phu Việt Nam chịu ảnh hưởng của hai hệ tư tưởng: Khổng Nho và Phật giáo.

Đã tự nhận là Tài Tử, so với hàng danh sĩ thì thuộc hạng bất nhập lưu. Nếu tự khen mình là trong sáng, thanh cao…, xét theo Khổng Nho là thiếu sự “khiêm cung”, giảng theo Phật pháp đó là “Tâm ngã mạn”.
E rằng chẳng có ai dám xưng Thanh Tâm Tài Tử với ý này.

Chúng ta chỉ cần sao lục các tên hiệu của những nhân vật được tôn là danh sĩ từ cổ chí kim là thấy điều này. Có tiều phu, có lười biếng, có câu cá, có lánh đời… Nhưng chẳng có ai tự khen mình thanh cao.

* Còn cách hiểu thứ hai:

Thanh Tâm Tài Tử: người học theo, nối chí của Thanh Hiên.

Nguyễn Du lấy hiệu là Thanh Hiên, còn nhóm bình giảng ĐTTT chọn bút danh Thanh Tâm Tài Tử.

Thành Tâm Tài Tử có phải là có ý sùng kính, học theo Thanh Hiên hay không? Để tìm hiểu, chúng ta cần đọc và nghiền ngẫm ĐTTT.

Nguyễn Du thông thạo cả Hán lẫn Nôm, ông có nhiều bài thơ chữ Hán. Thế nhưng ông đã chọn chữ Nôm, chọn tiếng Việt để viết ra tuyệt tác ĐTTT.

Ngay ở trong thời hiện đại, bất cứ ai đã đọc ĐTTT, cũng đều kinh hãi bởi kiến văn phong phú của ông. Lượng trI thức cổ kim ông đưa vào ĐTTT, chỉ có những bộ bách khoa toàn thư, do những học giả xuất chúng nhất biên soạn mới có thể ghi nhận được hết.

Có thể tưởng tượng, vua Minh Mạng, các văn thần, các nhà nho vào 200 năm trước kinh sợ tới bực nào khi đọc ĐTTT.

Bậc đại trí như Nguyễn Du, nếu ai đó được làm kẻ học trò đã là vạn hạnh. Những người tham gia bình giảng đã chọn bút hiệu Thanh Tâm Tài Tử chính là ý này.

Nhưng đã có Thanh Tâm Tài Tử, tại sao lại lòi ra một Thanh Tâm Tài Nhân?

Đến đây, chúng ta đọc lại một đoạn biên khảo của nhà nghiên cứu Lê Nghị:

” Về cuốn A953 lại được Bùi Khánh Diễn dùng trích giải nghĩa, đối chiếu truyện Kiều năm 1902. Trùng hợp với năm Kiều Oánh Mậu nhắc tới tên Thanh Tâm Tài Tử khi in cuốn Đoạn Trường Tân Thanh trong năm đó. Cả Bùi Khánh Diễn, Kiều Oánh Mậu và Nguyễn Đỗ Mục đều cộng tác với báo Đại Nam Đồng Văn cho nên có thể kết luận cuốn A953 hiện diện đầu tiên tại tòa soạn báo Đại Nam Đồng Văn trước năm 1902, rất gần thời điểm 1884, năm Abel des Michel lần đầu giới thiệu truyện Kiều ra thế giới.

Như vậy A953 tồn tại trước khi Maspero và Cordier nhắc tới năm 1914.Tuy nhiên đến trước 1884, không hề có tư liệu nói tồn tại cuốn A953.Vì cuốn truyện Kiều của Bùi Khánh Diễn chú giải, con là Bùi Thiện Căn công bố năm 1959, có nói rằng cha ông chỉnh lại lần cuối năm 1911-1912, gần thời điểm Maspero và Cordier nhắc tới nên có thể tin rằng cuốn A953 xuất hiện trước 1911.

Từ đó ta có thể kết luận cuốn A953 được biết đến sớm nhất cũng phải sau Tổng thuyết 1871 của Tự Đức.( Quá trình hình thành dần cuốn A953 chúng tôi dành riêng một bài, vì khá dài dòng. Ở đây chỉ khẳng định cuốn Kim Vân Kiều truyện A953 là của Thanh Tâm Tài Tử đất Việt )

Tóm lại Kim Vân Kiều Lục có trước công khai năm 1884, chắc chắn nếu sớm nhất cũng sau 1820. Kim Vân Kiều truyện biết công khai năm 1914 và có thể xuất hiện gần 1902…”
( hết trích)

Như vậy, mãi đến đầu thế kỷ XX, chí ít là đến năm 1902, ở Việt Nam chỉ có KIM VÂN KIỀU TRUYỆN văn xuôi mà tác giả được ghi nhận là Thanh Tâm Tài Tử.

Cũng vào những năm 1920, nghệ thuật thứ 7 là điện ảnh bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Đến lúc này, các ” đào, kép” phim ảnh được gọi là “tài tử điện ảnh”, diễn viên nổi tiếng được tôn là ” tài tử lừng danh”.

Kể từ đó, hai chữ “tài tử” mang thêm nghĩa là “người tài”. Học giả Đào Duy Anh đã đưa nghĩa này vào tự điển. Và tự điển Hán-Việt đó Đào Duy Anh đã ghi nhận như sau:

– Tài tử: tài nhân
– Tài nhân: nhân tài, người có tài.

Chúng ta có thể thông cảm cho sơ suất của Đào Duy Anh, vì điều kiện biên soạn vào ngày đó không được như bây giờ.

Sơ suất của ông là gì? Ta hãy xét hai chữ “tài nhân”.

Trong mọi thư tịch cổ kim, khi nói đến “người tài”, chỉ viết là “nhân tài”, không thư tịch nào viết là “tài nhân”:

” Tuấn kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu”
( Cáo bình Ngô).

Xét cấu trúc ngữ pháp tiếng Hán, cũng như các từ đồng nguyên trong tiếng Việt, chúng ta có:

– người chính trực, hiền lương: gọi là chính nhân, hiền nhân.

– người tốt: thiện nhân

– người ác: ác nhân

– người ở giai tầng cao: thượng nhân, đại nhân.

– người thuộc giai tầng thấp: hạ nhân

– người chuyên về thương mãi: thương nhân.

– người tâm thuật, hành vi tà ác: ma nhân

– người có pháp thuật: tiên nhân.

– …

Tính từ chỉ phẩm chất luôn đứng trước chữ NHÂN.

Duy nhất chỉ có người giỏi giang thì lại gọi là NHÂN TÀI không gọi là TÀI NHÂN. Đây chính là sơ suất của học giả Đào Duy Anh.

 

 

Sở dĩ có ngoại lệ này vì bởi TÀI NHÂN vốn là một thứ bậc thê thiếp của vua, hai chữ Tài nhân không thể mang thêm một ngữ nghĩa nào khác. Nếu như nó có thêm một nghĩa thứ hai, thì ai đó muốn chửi chó mắng mèo, làm sao trị tội được đây…!?

Việc kỵ húy vốn khởi nguồn từ Trung Hoa, nhẹ hay nặng còn tùy vào trạng huống phạm phải. Tuy nhiên, dính dấp đến vợ của Thiên Tử, là phạm đến oai trời, liệu có gánh tội nổi không?

Một văn sĩ người Hán, sống vào cuối đời Minh, có dám chọn bút hiệu có hai chữ TÀI NHÂN?
Trừ phi ông ta muốn cả ba họ cùng xuống hoàng tuyền trong một ngày, có khi là chín họ cũng không chừng.

Vậy thì tại sao lại có cái bút hiệu Thanh Tâm Tài Nhân xuất hiện vào năm 1924?

Lý giải duy nhất là bởi đến lúc đó, ai ai cũng đều biết bút hiệu Thanh Tâm Tài Tử là của người Việt. Kẻ nào đó manh tâm đổi chữ Tử (子) thành chữ Nhân (人) là muốn để cho một người Hán được chính danh trở thành tác giả quyển KVKT văn xuôi.

Có điều, kẻ đó đã dùng tâm thức của người sinh sống vào thời hiện đại, nên không lường hết được những trớ trêu trong thời phong kiến xa xưa. Thành ra việc dùng chữ Nhân ( 人) thay cho chữ Tử ( 子) bị vướng ngay vào đại kỵ như đã bàn ở trên.

Kết quả là gần một thế kỷ tìm kiếm, các học giả Trung Hoa vẫn không biết cái người mang bút hiệu Thanh Tâm Tài Nhân là ai, ở đâu?

Tin chắc rằng, cho dù họ có cỗ máy thời gian, đưa một văn sĩ mang bút danh THANH TÂM TÀI NHÂN trở về quá khứ cuối thời Minh, thì anh ta cũng sẽ bị ngũ mã phanh thây trước khi cầm bút chép lại KVKT.

Để bổ cứu cho điều này, các học giả Trung Hoa đã tìm cách lắp ghép những bản truyện rời rạc, có nội dung gần giống, kế cả việc sử dụng nội dung của KIM VÂN KIỀU TRUYỆN do Thanh Tâm Tài Tử người Việt biên soạn, mục đích để tạo thành một bản KIM VÂN KIỀU TRUYỆN xuất xứ ở Trung Hoa. Vào đầu thập niên 1980, Lý Chí Trung và các đồng sự của ông ta đã tiến hành việc này, đến nay họ vẫn còn tiếp tục.

Vào thế kỷ XXI lại tạo ra một quyển sách ở thế kỷ XVI nghe có vẻ hài hước. Thế nhưng, ngay tại lúc này, rất nhiều người Việt vẫn rao giảng và học rằng Nguyễn Du đã dựa vào KVKT của Thanh Tâm Tài Nhân để viết ĐTTT, hết thế hệ này đến thế hệ khác tin vào những cái sai, lấy giả làm thật. Thử hỏi sau vài trăm năm, nguồn gốc ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH còn mấy ai tường tận.

Qua đó, chúng ta thấy rằng khởi nguồn các sai lầm là do ai đó đã tự ý đổi Thanh Tâm Tài Tử thành Thanh Tâm Tài Nhân.

Kế đến là sơ suất của học giả Đào Duy Anh khi biên soạn tự điển đã giải thích sai nghĩa của các chữ Tài tử-Tài Nhân.

Cuối cùng, cũng là điều tệ hại nhất, đó là sự tắc trách của những học giả Việt Nam đương đại. Họ chỉ căn cứ vào những gì được nghe, được đọc từ Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm… để rồi thiết lập một chương trình giảng dạy, truyền bá về nguồn gốc ĐTTT ( Truyện Kiều), họ đã không màng đến những nghiên cứu chuẩn xác, khoa học.

Nếu so với cách làm của người Pháp là ông Abel vào năm 1984, hay như người Mỹ là ông Benoit vào năm 1982, hoặc như chính người Trung Hoa trong khoảng 1 thế kỷ, thì cách làm của học giả Việt Nam hời hợt vô kể.

.
( còn tiếp)

.

Đỗ Phú

 

 

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sống không cạn chén trọn tình. Chết ai tri kỷ rượu nghiêng rưới mồ? ...... Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Đối tửu - Nguyễn Du)