Nguyên Lạc Phê bình

 

 

thi tập NHC

.

Nguyên Lạc

VÀI GHI NHẬN VỀ THI TẬP “MÓT CHỮ TRONG KINH”

 

 

.
VÀI QUAN ĐIỂM CHỦ QUAN

 

Trước khi góp vài ý nghĩ sơ sài về tập thơ “Mót Chữ Trong Kinh” của Nguyễn Hàn Chung, tập thơ đã được nhiều nhà bình luận có tiếng khen ngợi, tôi xin ghi ra vài quan điểm chủ quan mà tôi sẽ dùng để “cảm nhận” vài điều trong thi tập này:

 

1. Theo Nguyễn Anh Khiêm (Ký Ức Sơ Sài) thì tiến trình ngôn ngữ như sau: Đủ chữ/ đủ ý: Thoại –> đủ chữ/ nhiều ý: Văn –> ít chữ/ nhiều ý: Thơ.
Có thể nói thơ là tinh túy của văn và chữ trong thơ rất nhiều ý, nhiều nghĩa. Chữ càng nén ý câu thơ càng nhiều ý, thì thơ càng hay.
2. Người thi sĩ phải như một người đánh cờ, một nhà quân sự giỏi: Khi đặt con cờ, đặt quân xuống điểm nào đó (đặt con chữ xuống vị trí nào đó) phải biết rõ con cờ mình, phải biết rõ quân mình, (phải biết rõ nghĩa con chữ của mình) cùng đoán trước ảnh hưởng của nó với thế cuộc cờ, cuộc chiến (bài thơ – tiên đoán ảnh hưởng của con chữ với câu thơ, bài thơ) không có vụ mai rũi.
3. Thường ở đời, mọi sự đều hai mặt: Ưu/ khuyết, tốt/ xấu… Chữ, câu thơ cũng không ngoại lệ. Thi sĩ có ngữ lực không thể để ai nghĩ nghĩa chữ, câu thơ ra sao cũng được, nhất là nghĩa tiêu cực.
4. Theo chủ quan tôi, văn chương phải phục vụ con người, phải đem cái đẹp, cái hay đến cho đời. Do đó thi sĩ phải chọn lọc chữ, phải suy nghĩ cẩn thận các câu thơ, phải đoán trước hậu quả của nó.
Vì sự quan trọng của chữ nghĩa như trên, làm một câu thơ, bài thơ người thi sĩ phải dò đi dò lại, ngẫm đi ngẫm cho kỹ, có thể cả chục, trăm lần. Không nhớ Giả Đảo đã nói : Ba năm mới làm được hai câu thơ/ Tri âm không đoái hoài thì về núi cũ ngủ.
.
Nhị cú tam niên đắc,
Nhất ngâm song lệ lưu.
Tri âm như bất thưởng,
Quy ngoạ cố sơn thu.
(Đề thi hậu – Giả Đảo)
.
Hai câu làm mất ba năm,
Một ngâm, lã chã hai hàng lệ rơi.
Tri âm nếu chẳng đoái hoài,
Trở về núi cũ, nằm dài với thu.
(Trần Trọng San dịch)

.

 

VÀI GHI NHẬN VỀ THI TẬP

 

1. Lời khen
Trong phần sau tập thơ “Mót Chữ Trong Kinh”, từ trang 179 -182 có chương “Đọc Thơ Nguyễn Hàn Chung”, trong đó thi sĩ họ Nguyễn được hơn 15 nhà bình luận khen thưởng với lời lẽ rất “ấn tượng”. Xin đơn cử:
– “Đọc thơ Nguyễn Hàn Chung càng đọc càng thấm cái hay ho của ngôn ngữ Việt Nam. Từ cái trong sáng của Nguyễn Du đến cái u minh của NHC thấy thơ ai cũng nằm trong ánh đèn LED” (Trần Vấn Lệ)
– “Thơ Nguyễn Hàn Chung thấy vần điệu gần gũi mà ý tứ thăm thẳm, lắt léo…Đọc cách này lóe ra hiểu cách khác nhưng dù đi bằng cách nào đi nữa thì con đường đến thơ ông cũng độc đạo. Đó là con đường đầy cảm thông và yêu thương…” (Dương Diên Hồng)
– “Nguyễn Hàn Chung, một ngòi bút tài hoa đã khắc họa một cung bậc tình cảm tinh tế trong thiên hình vạn trạng yêu-nhớ-hận-quên của cõi đời này.” (Trần Hạ Vy)
….
Những lời khen đúng là “đep kinh khủng”, “đẹp tản thần”. Xin nói rõ : Tôi nghĩ theo ý nghĩa đẹp của cụm chữ/ cụm từ.
.
2. Hai chữ quan trọng của nhan đề thi tập
Trong lời Bạt của thi tập, nhà văn Hồ Đình Nghiêm đã nói:
“Thi nhơn vừa chọn hơn trăm bài, gom lại, làm cho chúng cái giấy khai sinh bằng tên gọi “mót chữ trong kinh”. Bốn chữ này cũng là thứ cầu kỳ trong giản đơn. Chữ mót đã hay mà kinh là đại diện cho những lời răn thậm nghiêm túc. Nhà thơ mót được gì?”- Hồ Đình Nghiêm
Theo tôi, giống như Hồ Đình Nghiêm hai chữ quan trọng của nhan đề thi tập “Mót Chữ Trong Kinh” là chữ “Mót” và chữ “Kinh”, ta thử xét hai chữ này xem sao:

.

a. MÓT
Thử để ý vài nghĩa
– (Thông tục) cảm thấy rất cần, không thể nén nhịn được: Thí dụ mót đái … Đồng nghĩa: buồn, mắc.
– Nhặt nhạnh của để rơi vãi hoặc bỏ sót của người khác: Mót lúa, mót khoai…
– Ăn mót: Ăn của người khác bỏ lại.
– Bòn mót: Bòn từng ti chút, không để sót lại.

Theo tôi nhận xét, những chữ mót trên hình như hơi tiêu cực, vì của rơi, của thừa người bỏ lại đâu có tốt đẹp gì?

.

b. KINH
Ta cũng thử để ý vài nghĩa. Theo tôi có chữ KINH viết hoa và chữ kinh viết thường:
b1. Kinh viết hoa
– Sách do các nhà triết học cổ Trung Quốc soạn ra: Kinh Thi, Kinh Dịch, Đạo Đức Kinh …
– Sách giáo lý của một tôn giáo: Kinh Phật, Kinh Thánh…
– Những sách đọc khi cúng lễ: Kinh cúng cháo…
– Kinh Kama Sutra. Hoàng Đế Nội Kinh: Sách của các bậc thầy – Guru – về tình yêu truyền lại
b2. Kinh viết thường:
– Kinh nguyệt: Bùi Giáng có các câu thơ: “Quần sẽ đỏ từ khi trăng là nguyệt/ Kinh là kỳ từ châu quận tân toan”(Hồng Quần)
– Kinh tởm: Chỉ sự khinh bỉ về nhân cách của một người nào đó.
– Kinh hãi, kinh hoàng, kinh hồn, kinh khiếp, kinh khủng, kinh người: Các mức độ của sự sợ hãi, khiếp đảm trước một sự kiện nguy kiểm hay thảm khốc: Đứt tay sâu, trông kinh quá.

“kinh” viết thường này nhiều khi cũng giống nghĩa với hai chữ “tản thần”, nó bao hàm cả tốt và xấu, khen và chê.
Thí dụ: Cô ta đẹp kinh khủng, đẹp tản thần/ Cô ta xấu kinh khủng, xấu tản thần.

Có khi nào ông thi sĩ dùng chữ “kinh” với nghĩa này không? Giống như ông đã dùng “tản thần”? Đọc rồi “kinh khiếp”, “tản thần”?

.

3. Vài điểm cảm nhận chủ quan

 

a.
– Bài thơ nói về chùa
.
lên chùa cung thỉnh thiền sư
giảng kinh cứu khổ tiêu trừ tam tai
dường như nặng nợ trần ai
nên nghe kinh giống nghe đài phát thanh
(nghe kinh)
.

Thi sĩ nghe “lời giảng kinh” hay nghe “kinh khiếp”, “tản thần”? Dù nghĩa nào đi nữa thì cũng đưa đến “giống nghe đài phát thanh”.
.
– Bài thơ nói về sư
.
anh luôn tương kính quý bà
sao em nỡ buộc tội là: anh không?
chắp tay qua xóm không chồng
phải đâu trọc lóc nâu sòng là sư
(phải đâu)
.
Áo cà sa không làm nên thầy tu, tuy nhiên áo nâu sòng, đầu trọc là chắc hơn 60% – 70% là nhà sư. Biết rằng “thời mạc pháp” nay có nhiều giả sư ta cần phê phán, tuy nhiên là thi sĩ như đã bàn trên, khi sử dụng chữ, khi viết câu thơ nên ngừa, nên tránh nghĩa ai nghĩ sao cũng được: Ngôn ngữ giễu cợt, phê phán cần tránh trở thành “bất nhã”,”xách mé”, “xúc phạm”… và nhất là tránh “vơ đũa cả nắm”. Điều này sẽ đưa đến sự “tiêu cực” làm ảnh hưởng đến bài thơ, đến thi nhân. Xin nên chú ý đến: “nghe kinh giống nghe đài phát thanh”, “trọc lóc nâu sòng”

.

b. Về người nữ

.

mắt tôi nhắm đã lâu rồi
từ khi váy rách em ngồi lặt rau
(xem múa cột)
.
– “từ khi “váy rách” em ngồi lặt rau”: Có “kinh khủng”, có “tản thần” không? Có chính xác không?
Ý của thi sĩ muốn nói là em hớ hênh “lộ hàng”. Chắc không? Ta thử “lạm bàn” xem thi sĩ có chính xác không?
Điểm cần bàn ở đây là chữ VÁY.
– Váy và quần khác nhau: Váy (quần không đáy), quần hai ống (có đáy) Tiếng Tây phương váy đàn bà là jupe.
– Ngày xưa (tạm cho là trước thời thuộc Minh) đàn bà nước ta không mặc quần hai ống như ngày nay, các bà mà chỉ mặc váy thôi.
Chữ quần (Hán), chỉ đồ mặc để che phần dưới thân thể của đàn bà Việt Nam ngày xưa, phải được hiểu và phải được dịch nôm là cái váy để khỏi nhầm lẫn với cái quần đàn ông.

Điều này đã được tranh dân gian Oger (1909) chứng minh rõ ràng hơn qua một tấm vẽ đàn bà mặc váy. Tranh được ghi chú bằng chữ Hán nôm “dã phụ y thử quần, tục danh quần đùm” (váy của đàn bà nhà quê, tục gọi là váy đùm). Người đàn bà trong tranh mặc váy, do đó chữ quần (hán) phải được dịch (nôm) là váy. Váy đùm là váy buộc túm cạp lại.

 

 

váy

.
– Theo Minh Mệnh chính yếu, thời vua Minh Mạng (1820-1840) có ra lệnh cấm đàn bà mặc váy (quần không đáy) ra chợ. Dụ của vua Minh Mạng lệnh cho phụ nữ miền Bắc ra đường phải mặc quần hai ống như phụ nữ miền Nam.
Việc cải đổi y phục của vua Minh Mạng đã gặp phải sức kháng cự của người dân Đàng Ngoài bằng hành động bất tuân phục và đặt ra những bài hò vè để chế diễu phản đối như:
.
Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì phải lột quần chồng sao đang!
Có quần ra quán bán hàng
Không quần ra đứng đầu làng trông quan.
.
Thi sĩ Nguyễn Hàn Chung sống và viết thơ ở thế kỷ 20 – 21, các người nữ chỉ mặc quần hai ống (có đáy) . Nếu có mặc jupe, thường có “nội y”, thì phải là con nhà giàu, làm gì mòn rách và ngồi lặt rau? Nếu có bị vướng rách thì thường ở hông, làm gì “lộ hàng” mà “kinh”, mà “tản thần”? Chỉ khi nào mặc quần, vì nghèo nên mòn rách đáy, không nội y, ngồi lặt rau mới lộ cái “bí mật” làm kinh, làm tản thần thôi. Cái “bí mật” mà Nguyễn Khuyến đã từng nói đến trong bài thơ “tản thần” của ông:
.
Đầu làng Ngang có một chỗ lội
Có đền ông Cuội cao vòi vọi
Đàn bà đến đấy vén quần lên
Chỗ thì đến háng chỗ đến gối
Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười
Cái gì trăng trắng như con cúi
Đàn bà khép nép đứng liền thưa
Con trót hớ hênh ông xá tội
(Chỗ Lội Làng Ngang – Nguyễn Khuyến)
.
Người đàn bà trong câu chuyện phải mặc váy. Vì quần hai ống vén đến gối hay đến háng thì vẫn còn kín đáo, chưa để lộ hàng, lộ cái bí mật. Nguyễn Khuyến đã dùng chữ quần theo nghĩa chữ Hán, để chỉ cái váy của các bà (quần một ống).
Theo chủ quan tôi, có gì bỏ quá, thi sĩ bài thơ nên viết như vầy mới làm người “kinh”, “tản thần”, mới xót xa cho phận nghèo của người đàn bà Việt Nam và … mới chính xác.
khi quần đáy rách em ngồi lặt rau

Xin nói rõ, chỉ mong cho câu thơ “kinh” “tản thần” thôi, không dám đề nghị chỉnh sửa thơ người khác, hiểu cho.

 

***
Qua trên là một vài điểm tôi “cảm nhận” tập thơ đầy “ấn tượng”, tập thơ đã được nhiều nhà phê bình khen thưởng hết lời.
.
Nguyên Lạc

 

 

 

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sống không cạn chén trọn tình. Chết ai tri kỷ rượu nghiêng rưới mồ? ...... Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Đối tửu - Nguyễn Du)