Biên khảo Lê Nghị

 

Le Nghi

Lê Nghị

 

 

SO SÁNH TÓM TẮT: KIM VÂN KIỀU LỤC VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN

 

1. Nguồn gốc 2 cuốn.

 

 

a. Kim Vân Kiều Lục

Nhan đề cuốn Kim Vân Kiều Lục khuyết danh được biết đến lần đầu tiên trong chú thích của Abel des Michel khi ông giới thiệu truyện Kiều năm 1884 tại Pháp. Theo lời ông thuật cuốn này do học giả Trương Minh Ký gửi cho ông, trong đó các câu cuối hơi tối nghĩa rằng do một nho sĩ tên Phươc Binh Lê “chép” thông tin trên một lá thư thì cuốn này mới in tại Hà Nội. Do đó dẫn tới 2 cách hiểu đây là cuốn sách in hoặc là chép lại từ một cuốn sách in.
Việc này dẫn tới chúng tôi thấy nếu hiểu là cuốn sách in thì có mâu thuẫn. Một là theo cuốn AC 569 ở Thư viện Hán Nôm là bản in sớm nhất, niên đại 1888,( Phạm Tú Châu) thì sao 1884 ông Phuoc Binh Le lại có cuốn in trước khi in 4 năm? Hai là ông Abel xem lại tin cuốn này là tiểu thuyết Trung Hoa, nguồn gốc thơ Kiều mà trước đó ông từng nghe nhắc tới. Bởi vì tuy trong tác phẩm không hề nhắc tới Nguyễn Du, mở đầu truyện là dẫn bài thơ của Phạm Quý Thích, trong một bài thơ lại dẫn nguyên văn một câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn: du du bỉ thương hề thùy tạo nhân. Bấy nhiêu chi tiết đủ kết luận tác giả là người Việt cho dù khuyết danh. Tuy nhiên ta cũng không loại trừ khả năng rất cao, ông Abel không rành văn học sử Đại Nam, ông không biết Phạm Quý Thích là ai, cũng không biết câu thơ dẫn trên là của Đặng Trần Côn, thấy chữ Hán và không đề cập tên Nguyễn Du nên nghĩ rằng cuốn này từ Trung Hoa. Đồng thời vì chỉ có thêm thông tin từ Cordier và Maspero năm 1914 cuốn A953 được nhắc tới, cả 2 ông cũng không nói từ đâu mình có cuốn này, nên chúng tôi chỉ ghi nhận năm xuất hiện công khai của A953 là 1914, tạm chấp nhận Kim Vân Kiều lục Ông Abel nhận là một cuốn chép tay, và có trước Kim Vân Kiều truyện A953.

Xem xét thêm về nội dung, Kim vân Kiều lục phải có bản viết tay trước 1884. Theo Phạm Tú Châu và Trần Ích Nguyên thẩm định ( có lẽ dựa vào văn phong) đoán vào khoảng 1850. Riêng chúng tôi nhận định thêm có thể tác giả là Mộng Liên Đường, xuất hiện sau 1820. Bởi vì trong Kim Vân Kiều Lục có nói 3 chị em Thúy Kiều sinh ra được báo trước trong giấc mộng Hoa Đào của bà mẹ. Ông bà hiếm muộn, khi cầu tự ở núi Hành sơn- Hồ Nam, bà được một cụ già trong mộng cho nhánh đào 2 hoa nở, một khép. Bà đoán là sẽ 2 gái đầu và một trai, tức thúy Kiều, Thúy Vân và Vương Quan. Sau này Mộng liên Đường lại viết Tục Đoạn Trường Tân Thanh lấy tên là Đào Hoa Mộng Ký. Tác phẩm thơ này lấy bối cảnh là các nhân vật của Tuyện Kiều đầu thai lại ở vùng Bắc bộ Việt nam. Ở đây giấc mộng Hoa Đào tương tự giấc mộng Kiều mộng thấy Đạm Tiên. Hơn nữa, phải là người có văn tài mới làm được tác phẩm tương đương.Ông lại sống thọ, nổi tiếng thơ hay, thường ẩn danh, Cấn phong Hà Đạm Hiên có thể cũng là ông, viết Đào Hoa Mộng Ký phần 2 như ông đã báo trước trong phần 1 như là phát thảo, Hà sinh sẽ tiếp tục. Ông có hiệu là Tiên phong Thán Hoa Hiên, trong khi Đào Hoa Mộng Ký là Cấn Phong Hà Đạm Hiên, nội dung gắn bó với Đoạn Trường Tân Thanh.
Tóm lại cuốn Kim Vân Kiều lục xuất hiện công khai năm 1884 và Kim Vân Kiều truyện xuất hiện công khai năm 1914.

 

 

b. Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Tử.

 

Từ thời Lê mạt- Nguyễn Sơ đã xuất hiện khái niệm nhà nho tài tử trong sử sách. Họ là những người nho học nhưng không làm, hay khi không còn làm trong hệ thống quan quyền đương thời. Các thầy đồ cũng xếp vào nhà nho tài tử. Nghĩa của chữ tài tử là không chuyên nghiệp, đồng thời gắn liền với tính cách ham vui, yêu văn hóa, văn nghệ, cho dù vài người có thể nghèo rớt mồng tơi. Ví dụ Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ có lúc xưng mình là hàn nho, tài tử. Riêng cụm từ Thanh Tâm Tài Tử được ghi nhận bằng văn bản là năm 1830. Khi Minh Mạng tổ chức tổng thuyết Truyện Kiều ông đã gọi các quan hàn lâm và các nhà nho tham gia bình giảng Truyện Kiều là Thanh Tâm Tài Tử. Cái tên đó chỉ chung cho tập thể những nhà Kiều học bất luận xuất thân. Cho nên các tác phẩm của các tác giả hữu danh hay khuyết danh liên quan đến Truyện Kiều đều xếp chung vào nhóm Thanh Tâm Tài Tử cổ kim, trong đó có Kim Vân kiều lục và Kim Vân Kiều Truyện A953.

Về cuốn A953 lại được Bùi Khánh Diễn dùng trích giải nghĩa, đối chiếu truyện Kiều năm 1902. Trùng hợp với năm Kiều Oánh Mậu nhắc tới tên Thanh Tâm Tài Tử khi in cuốn Đoạn Trường Tân Thanh trong năm đó. Cả Bùi Khánh Diễn, Kiều Oánh Mậu và Nguyễn Đỗ Mục đều cộng tác với báo Đại Nam Đồng Văn cho nên có thể kết luận cuốn A953 hiện diện đầu tiên tại tòa soạn báo Đại Nam Đồng Văn trước năm 1902, rất gần thời điểm 1884, năm Abel desMichel lần đầu giới thiệu truyện Kiều ra thế giới. Như vậy A953 tồn tại trước khi Maspero và Cordier nhắc tới năm 1914.Tuy nhiên đến trước 1884, không hề có tư liệu nói tồn tại cuốn A953.Vì cuốn truyện Kiều của Bùi Khánh Diễn chú giải, con là Bùi Thiện Căn công bố năm 1959, có nói rằng cha ông chỉnh lại lần cuối năm 1911-1912, gần thời điểm Maspero và Cordier nhắc tới nên có thể tin rằng cuốn A953 xuất hiện trước 1911. Từ đó ta có thể kết luận cuốn A953 được biết đến sớm nhất cũng phải sau Tổng thuyết 1871 của Tự Đức.( Quá trình hình thành dần cuốn A953 chúng tôi dành riêng một bài, vì khá dài dòng. Ở đây chỉ khẳng định cuốn Kim Vân Kiều truyện A953 là của Thanh Tâm Tài Tử đất Việt )
Tóm lại Kim Vân Kiều Lục có trước công khai năm 1884, chắc chắn nếu sớm nhất cũng sau 1820. Kim Vân Kiều truyện biết công khai năm 1914 và có thể xuất hiện gần 1902..

 

 

2. Kết cấu cốt truyện và nội dung

 

Nhưng cho dù tác giả là ai, thì tác giả Kim Vân Kiều Lục cũng không từng đọc cuốn A953. Bởi vì tên các nhân vật trong sách chỉ đi theo sát tên gọi như truyện Kiều không thừa không thiếu.Vậy ta nên gọi nó là loại sách gì, nếu không gọi là cuốn bình giảng truyện Kiều? Trong khi đó cuốn A953 lại chi tiết hóa hơn Truyện Kiều nhưng cũng chỉ là bình giảng truyện Kiều, chỉ khác là trình bày kiểu tiểu thuyết chương hồi.

Xét về tổng thể cuốn Kim Vân Kiều Lục chỉ 48 trang, trong khi Kim Vân Kiều truyện gấp 10 lần độ dài: 478 trang. Tuy nhiên xét về mặt chất lượng thì Kim Vân Kiều Lục lại hơn hẳn A953. Trước hết về bố cục không thừa không thiếu, sát với ý thơ Kiều. Tác giả cố tình biễu diễn tài viết tiểu thuyết của mình trong phần đầu từ mở đầu cho đến giấc mộng Đạm Tiên. Còn lại thì chỉ lướt qua xem như chẳng cần diễn giải dài dòng. Chủ yếu là diễn lời thơ ra văn xuôi cho dễ hiểu mà không cần chú giải điển tích, điển từ. Đồng thời bổ sung những chỗ truyện Kiều không miêu tả chi tiết. Ví dụ tới câu thơ Kiều 99, 100, khi Kiều viếng nhang mã Đạm Tiên xong:

Rút trâm sẳn giắt mái đầu
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần

Rõ ràng ý Nguyễn Du nói Kiều đã làm bài thơ tứ tuyệt. Nhưng không rõ bài thơ thế nào, nhà nho tài tử liền ráp vào một bài tứ tuyệt:

Tuyền hạ giai nhân tri dã vô
Hồng nhan thuỳ thị cánh vô phu
Lạc nhạn trầm ngư mê khách tứ
Thê lương phong nguyệt xúc nhân sầu.

Tương tự :
Kiều vâng lĩnh ý đề bài
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm

 
Thì nhà nho tài tử làm ngay 10 bài thơ minh họa thơ của nàng Kiều.
Toàn bộ tác phẩm mang nét duyên dáng súc tích, trau chuốt của thể loại văn ngôn. Tác giả có chủ định diễn thơ ra văn xuôi cô đọng hơn lời thơ Kiều, nhưng đủ làm hiểu ý lời thơ. Nhìn chung tác giả giữ đúng tiêu chuẩn tín, đạt, nhã khi diễn văn xuôi, không phân tích, phê bình, không phóng tác sa đà. Cho nên trở thành một cuốn truyện vừa nhất quán và lôi cuốn. Xét về mặt bình giảng là một cuốn sách đạt yêu cầu cho giới bình dân liên kết được cốt truyện của Đoạn Trường tân Thanh từ đầu đến cuối, đủ nhận ra tính cách các nhân vật chính phụ, cũng như tôn trọng tư duy về chủ đề tùy người đọc.
Ngược lại khảo sát nội dung Kim Vân Kiều Truyện viết dưới dạng tiểu thuyết chương hồi. Đầu mỗi hồi có hai câu đối tóm tắt cốt truyện trong hồi ấy. Sau đó lại dẫn ý, kể truyện và cuối chương lại xen vào bình phẩm. Kết cấu mỗi hồi giống như một bài bình giảng thường thấy mỗi đoạn thơ Kiều. Các hồi viết không đều tay, có hồi theo thể văn ngôn, có hồi lại bạch thoại. Chứng tỏ rằng đây là sự lắp ráp của nhiều người.
Ngày nay đọc bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh có trau chuốt theo ngôn ngữ hiện đại. Bản dịch đầu tiên của Nguyễn Duy Ngung và của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm cho thấy theo sát văn bản hơn. Rất nhiều hồi chôm đến hàng chục câu thơ Kiều thêm bớt vài chữ cho ra văn xuôi. Những bài thơ minh họa phần lớn không hay. Nhưng xét tổng thể cũng giúp cho người đọc hiểu được thơ Kiều về cốt truyện nhưng về tư tưởng lệch nghĩa rất nhiều.

Các nhà Kiều học chưa có công trình so sánh kỹ 2 tác phẩm này. Ở đây chúng tôi chỉ nhắc qua vài điểm. Nếu ai chịu khó so sánh còn thấy cuốn A954 là cuốn tán rộng ra nội dung của Kim Vân kiều lục. Nhưng lại làm cho nó có vẻ khác, không chịu ảnh hưởng của Kim Vân Kiều Lục.

Tuy nhiên chính sự làm cho khác nhau đó ta thấy khi bình giảng Kiều mỗi tác giả có thể tưởng tượng thêm. Ví dụ về gia thế Kiều, Kim Vân Kiều Lục hư cấu quê quán Kiều ở đâu đó gọi là Lôi Châu- Hồ Nam. Trong A953 quê Kiều ở Bắc Kinh. Thực ra nếu xét Kiều ở Bắc Kinh thì có nhiều điểm không khớp. Ví dụ : Kiều nói dối Giác Duyên:

Gạn gùng ngành ngọn hỏi tường
Lạ lùng nàng lại tìm đường nói quanh
Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh
Qui sư, quy Phật tu hành bấy lâu.

Đã là nói dối thì không phải ở Bắc Kinh rồi. Kiều ở không xa Lâm Tri, chỉ gần Lâm Thanh hơn thôi. , nên vừa bắn tin bán mình đã có người từ Lâm Tri đến mua. Nếu ở Kinh Đô thì với tài sắc của Kiều, Mã giám Sinh không có cửa để mua đâu. Xưa nay ma cô tỉnh lẻ lại lên kinh đô dụ gái đẹp? Hoặc như bị tên bán tơ khai ẩu thì tại kinh đô ắt không có chuyện điều tra kiểu bá đạo thế được. Đây cũng là điểm chứng tỏ tài tử A953 đã không hiểu đúng thơ Kiều bằng tác giả Kim vân Kiều Lục nên mới cho rằng quê Kiều ở Bắc Kinh. Thực tế theo sử cũng nói Kiều xuất thân là Kỹ nữ Lâm Tri. Sự vẻ vời sa đà sẽ dẫn tới mâu thuẫn. Điển hình nhất là sự vẻ vời chuyện Kiều báo oán.

 

 

3. Lời bàn

 

Sự ra đời của Thanh Tâm Tài Tử rõ ràng có lợi ích cho vương triều từ Minh Mạng đến Tự Đức. Đồng thời nó cũng chứng tỏ truyện Kiều có sức hấp dẫn dân gian mãnh liệt và bền bỉ. Bên cạnh hàng loạt các tác phẩm ưu tú hứng khởi từ truyện Kiều mà Kim Vân Kiều lục là một điển hình, cũng có đôi tác phẩm lạm dụng và bị lợi dụng làm hoen ố hình ảnh truyện Kiều như Kim vân kiều truyện.Việc biên soạn đối chiếu truyện kiều song song với Kim Vân kiều truyện như là một giải nghĩa cho truyện Kiều, chẳng những là tư duy lộn ngược đầu, vô bổ mà còn gây tác hại lâu dài. Lộn ngược là lấy sau giải thích trước. Vô bổ vì bản thân Kim Vân Kiều truyện là một tác phẩm dỡ, không đáng đem ra đối chiếu. Tác hại lâu dài vì thay tâm hồn Việt bằng tâm lý xa lạ của ngoại bang.

Thay vì vậy, việc phân chia bố cục truyện Kiều ra nhiều phần là cần thiết, giúp cho người đọc dễ hình dung cốt truyện nhất là khi người đọc không có thời gian đọc liên tục, cũng là giúp tra cứu trích dẫn nhanh chóng. Việc chú thích chỉ cần đơn giản vài từ cổ bằng ngữ nghĩa hiện đại, ví như cuốn chú thích của Kiều Oánh Mậu ( nhà xuất bản Thuận Hóa tái bản)

Việc dẫn cổ thư Tàu như Chiêm Vân Thị, Bùi Khánh Diễn để chú thích truyện Kiều, xét cho cùng là tỏ vẻ thông tuệ hình thức nhưng thực chất sẽ kìm hãm tư duy dân tộc và nhân văn. Nếu cần thiết nên liên hệ đến ca dao, tục ngữ, các nhà thơ nhà văn Việt Nam đã dùng. Nếu muốn một công đôi chuyện thì nên dùng Kim Vân Kiều lục đối chiếu, vừa giúp những người mới đọc hiểu cốt truyện, vừa góp thêm câu truyện văn chương. ( Ví như cuốn do Phạm Tú Châu dịch)

Chúng ta cần mạnh dạn tẩy chay các bài viết luôn mở đầu hoặc lén ghép các câu đại loại: Nguyễn Du dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu để viết nên tuyệt tác truyện Kiều…Nếu không nhắc tới Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu thì Truyện Kiều không còn là tuyệt tác hay sao? Các kiểu viết như vậy hoặc là lừa mị hoặc là rỗng tuếch.

Trước hết đó không phải là sự thật. Thanh Tâm Tài Nhân không có thật. Tiếp đến ta tự cúi đầu khom lưng, hạ thấp giá trị của tiền nhân. Chúng ta chưa bao giờ từ chối Nguyễn Du đã mượn sử liệu, tiểu phẩm, và tên nhân vật, địa danh Trung Hoa để viết nên truyện Kiều. Đó chỉ là cái cớ trong một hoàn cảnh lịch sử thời quân chủ nước ta. Chú ý rằng các truyện như Tam Quốc chí, Tây Du Ký, Thủy Hử…dưới chế độ phong kiến Trung Hoa cũng chỉ cho phép viết sau đó chí ít cũng 400 đến cả hơn ngàn năm. Dưới chế độ độc tài phong kiến thì không có tác phẩm mang tính hiện thực phê phán nào ra đời cả. Nếu muốn phải ngụy trang thật khéo, lọt lưới như Truyện Kiều là một trường hợp kỳ diệu, nhưng cũng chỉ khi tác giả qua đời mới công bố. Phải chăng Tiên Điền không thiết sống để đứa con tinh thần quý giá của dân tộc ra đời!?

“Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn.” Nhận định của Phạm Quỳnh vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại hiện nay.

Lê Nghị

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sống không cạn chén trọn tình. Chết ai tri kỷ rượu nghiêng rưới mồ? ...... Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Đối tửu - Nguyễn Du)

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s