Phê bình Nguyên Lạc

 

NguyenLac

Nguyên Lạc

 

 

 

LỜI PHÁT BIỂU CỦA NHÀ BÌNH THƠ CHÂU THẠCH

 

Tình cờ vào trang THƠ ĐƯỜNG ĐẤT VIỆT, tôi đọc được bài: “XUÂN ĐỢI NHÉ” THƠ LÃNG UYỂN CHÂU: ĐƯỜNG THI HẬU HIỆN ĐẠI của Nhà bình thơ Châu Thạch [1] đăng ngày 23-05-2018, những lời phát biểu sau đây của Nhà bình thơ gây nhiều “ấn tượng” đối với tôi:

” Tôi không rành văn học sử nhưng hình như các thể thơ làm theo phong cách mới xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, được các nhà nghiên cứu văn học cho rằng là thơ hiện đại. Ngày nay có một thứ thơ chữ nghĩa bí hiểm, ý tứ bí mật được cho là thơ hậu hiện đại. Tất nhiên thứ thơ hiện đại và hậu hiện đại nầy không có Đường thi. Từ lập luận nầy người viết nghĩ ra một ý ngộ nghĩnh, dí dỏm như sau: Đường thi cũng có hai loại, Đường thi cổ thi và Đường thi hậu hiện đại. Đường thi cổ thi là thơ Đường luật được sáng tác từ xưa đến nay, câu thơ dùng nhiều hán tự và điển tích, ý thơ gò bó trong ngữ nghĩa của ông bà để lại và đối ngẩu thì đập vào nhau chan chát như hai chiếc bánh xe song hành trên đường sắt. Đường thi hậu hiện đại là thơ Đường luật của một số tác giả ngày nay sáng tác, không dùng chữ Hán và điển tích, ý thơ rõ ràng đọc là hiểu ngay, đối ngẫu trong thơ thanh thoát nhẹ nhàng như hai thiếu nữ đi song song bên nhau. Đây chỉ là một phát biểu vui của người viết, xin đừng ném đá nếu cho là sai.
Trong số Đường thi hậu hiện đại ấy, hôm nay tôi thấy mình thích thú với bài thơ “Xuân Đợi Nhé” của Lãng Uyển Châu” [Châu Thạch]
Phát biểu trên có những điểm theo tôi nghĩ nên cần “thương thảo” nhau cho chính xác, cho rõ nghĩa:
— “Đây chỉ là một phát biểu vui của người viết, xin đừng ném đá nếu cho là sai”.

 
Theo tôi, đã là nhà phê bình, đã phê bình các bài thơ đưa ra công chúng thì lời nói có trọng lượng, được cân nhắc cẩn trọng chứ không thể nào gọi là “một phát biểu vui” được. Chỉ gọi là phát biểu vui khi nào lời phát biểu được đưa ra trong lúc thù tạc bạn bè ở tiệc rượu hoặc quán càphê. Không có chuyện “đừng ném đá nếu cho là sai” vì câu nói nầy rõ ràng cố tính không cho người khác phê bình tính chủ quan của người phát biểu – Nhà bình thơ.

“thơ chữ nghĩa bí hiểm, ý tứ bí mật được cho là thơ hậu hiện đại”
Đoạn này theo tôi không chính xác vì thơ Hậu hiện đại chữ nghĩa đâu có bí hiểm, ý tứ đầu có bí mật? Chỉ vì không hiểu rõ cách “làm thơ” của trường phái nầy nên nói vậy thôi

Các thể thơ làm theo phong cách mới xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, được các nhà nghiên cứu văn học cho rằng là thơ hiện đại.
Câu nầy tương đối chính xác. Trong thơ hiện đại có thơ mới và thơ tự do
— “Đường thi cũng có hai loại, Đường thi cổ thi và Đường thi hậu hiện đại. Đường thi cổ thi là thơ Đường luật được sáng tác từ xưa đến nay, câu thơ dùng nhiều Hán tự và điển tích, ý thơ gò bó trong ngữ nghĩa của ông bà để lại và đối ngẩu thì đập vào nhau chan chát như hai chiếc bánh xe song hành trên đường sắt. Đường thi hậu hiện đại là thơ Đường luật của một số tác giả ngày nay sáng tác, không dùng chữ Hán và điển tích, ý thơ rõ ràng đọc là hiểu ngay, đối ngẫu trong thơ thanh thoát nhẹ nhàng như hai thiếu nữ đi song song bên nhau”
Đoạn này không chính xác. Trước khi tôi phân tích rõ, mời các bạn đọc 2 trích đoạn lý thú này về Đường thi:
Trích đoạn 1
[… 1. Thơ Đường tức là Đường Thi: là những bài thơ của các thi gia Trung hoa làm vào thời đại nhà Đường (618 – 907), số lượng các bài Đường thi được ghi chép và lưu truyền đến nay rất nhiều, lên đến hàng ngàn bài.
Đã có một tác phẩm nổi tiếng là Đường Thi Nhất Thiên Thủ chọn lọc 1000 bài Đường Thi được coi là hay nhất của các thi nhân đời Đường. Trong số đó có một số được làm theo thể Thơ Đường Luật, số còn lại làm theo những thể thơ khác mà đa số là thơ Cổ phong (Cổ phong hay cổ thể là loại thơ có trước đời nhà Đường, không theo niêm luật nhất định). Cho nên gọi là Đường Thi hay Thơ Đường thì phải là những bài thơ được sáng tác vào thời đại nhà Đường bên Trung hoa nhưng không nhất thiết làm theo luật thơ của Thơ Đường Luật.
2. Thơ Đường Luật: còn gọi thơ cận thể (để phân biệt với cổ phong là thơ cổ thể) là thể thơ được đặt ra từ đời nhà Đường và phải tuân theo các qui tắc bắt buộc, rất khắt khe, gò bó.
Đường Luật Chính Thể chỉ có Thất Ngôn Bát Cú 5 vần bằng mà thôi.
3. Một sự lạm dụng và ngộ nhận:
Thuật ngữ Thơ Đường hay Đường Thi đã bị lạm dụng, hiểu lầm, thiết nghĩ cần nói lại cho rõ.
Thơ Đường là loại thơ do các thi nhân đời nhà Đường bên Trung Hoa sáng tác, hoàn toàn không có các tác giả đời khác, ngoài các thi sĩ đời Đường.
Các thi sĩ Việt Nam trước đây (thường gọi là các nhà thơ cổ điển) chủ yếu làm theo thể Thơ Đường Luật. Họ sáng tác bằng Hán văn, gọi là thơ Hán văn (thí dụ thơ Hán văn của Nguyễn Du…). Còn nếu họ sáng tác bằng chữ Nôm, gọi là thơ Nôm. Như thơ của Bà Hồ Xuân Hương chẳng hạn, được người đời sau tôn xưng Bà là bà chúa thơ Nôm.
Không ai gọi thơ Hán văn của Nguyễn Du là Thơ Đường cả. Cũng không ai gọi Bà Hồ Xuân Hương là bà chúa Thơ Đường cả.
Tóm lại, các thi gia từ Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bùi Kỷ, Trần Tế Xương, Tản Đả, Nguyễn Khuyến … trở về trước, người ta thường không nói là họ làm Thơ Đường, mà chỉ phân biệt Thơ Hán (Hán văn) và Thơ Nôm (chữ Nôm) thôi, với hiểu ngầm là Thơ Đường Luật chữ Hán hoặc Thơ Đường Luật chữ Nôm. Gọi tắt là Thơ Hán Đường Luật và Thơ Nôm Đường Luật.
Các bài thơ làm theo thể Thất Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt … gọi chung là thể Thơ Đường Luật không phải Thơ Đường (Đường Thi)…]
(Khải Chính Phạm Kim Thư) [2]
Trích đoạn 2
[…Hai thể loại thơ hình thành: Một sáng tác theo lối mới, gọi là Cận thể hay Luật thi; một loại sáng tác theo lối cũ, gọi là cổ thể hay Cổ phong. Thơ cận thể gồm những bài có số câu nhất định (tứ tuyệt, bát cú), số tiếng trong các câu thống nhất (ngũ ngôn, thất ngôn), phép gieo vần (vận luật) và tiết tấu (thanh luật) đều được quy định rõ ràng chặt chẽ…”
Như vậy, loại hình thơ Cổ phong (cổ thể) trên thực tế cùng tồn tại song song với thơ cận thể ở đời Đường, thậm chí cổ phong vẫn còn được duy trì cho đến ngày nay ở Trung Quốc và Việt Nam.Thơ Cổ phong tuy không có những quy định ngặt nghèo như thi luật, nhưng không phải là không có phép tắc gieo vần…]
(Theo Phan Lan Hoa)

 

TÍNH KHÔNG CHÍNH XÁC TRONG LỜI PHÁT BIỂU

 

Vài ý nghĩ về bình thơ:
Trước khi phân tích tính không chính xác lời phát biểu của Nhà bình thơ Châu Thạch, tôi xin được ghi ra đây vài ý:
— Người xưa có nói “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Tôi tự nhận xét mình cũng có hiểu biết chút ít về phê bình nên góp vài lời chắc cũng không sao, có gì các cao nhân sẽ niệm tình cho tấm lòng yêu thương sự chính xác của chữ nghĩa, của cái đẹp tiếng Việt
— Người bình thơ nên học hỏi thêm về Văn học sử, căn bản về các trường phái thơ, biết vài thủ pháp về thơ, biết sơ lược về cách phân tách ngôn ngữ cần thiết cho sự bình thơ; vì nếu chỉ bình theo cảm tính thì bài phê bình không chính xác, đầy tính chủ quan và có nhiều khi vô tình gây ảnh hưởng tiêu cực đến bài thơ.
— Hãy thật lòng mình, đừng bẻ cong ngòi bút vì tư lợi, ý đồ, phe cánh hoặc vì tiếng tăm người khác gắn cho bài thơ, cho thi nhân.v.v… mà vội vàng hít hà khen thưởng, không thẩm định kỹ. Nên nhớ rằng, khen “quá lố” có khi làm hại người được khen.
– Cũng đừng đóng “hòm” trước rồi chặt chân xác chết cho vừa cái “hòm”. Có nghĩa là đừng đưa ra tiêu chí chủ quan riêng mình rồi ép bài thơ được bình phải hợp theo. Không nên áp đặt như vậy
— Nhà binh thơ nên cũng nên cần biết câu chuyện này:
Nhà thơ Jacque Prévert đi vào câu lạc bộ bình thơ của Pháp tại Paris. Gặp lúc các nhà bình thơ đem thơ ông ra mổ xẻ đủ loại, đủ điều nhưng chả có ai chú ý đến một người vô danh mới vào và chăm chú theo dõi cuộc bình thơ. Hết cuộc bình thơ, người khách lạ bước lên sân khấu bắt tay các diễn giả và nói rằng: “Xin chân thành cảm ơn tất cả các ngài đã đem thơ tôi bình luận. Thật sự tôi chưa bao giờ biết rằng tôi đã có những ý nghĩ lạ lùng cao xa ấy trong thơ mình và tôi cũng không ngờ thơ tôi lại hay như vậy. Cảm ơn các ngài.
Nói xong, người khách lặng lẽ bước ra. Người khách lạ ấy chính là Jacque Prévert.”

Cái ý của câu chuyện này chắc nhà bình thơ hiểu rõ?

Phân tích lời phát biểu của nhà bình thơ
Luật của thợ Đường rất rắc rối: Nhà bình thơ nói đúng ở đây
Các đặc trưng cơ bản nhất của thơ Đường luật (Đường thì) là “luật”, “niêm”, “đối”, “vận”. Đặc biệt nhất là các cặp 3-4 (cặp câu thực) và 5-6 (cặp câu luận) phải đối nhau. Người làm thơ Đường luật nhất thiết phải đạt được các đặc trưng ấy, nếu không sẽ thành bài thơ theo thể khác
Tuy nhiên nói: “Đường thi hậu hiện đại là thơ Đường luật của một số tác giả ngày nay sáng tác, không dùng chữ Hán và điển tích, ý thơ rõ ràng đọc là hiểu ngay, đối ngẫu trong thơ thanh thoát nhẹ nhàng như hai thiếu nữ đi song song bên nhau” là không chính xác. Tại sao?
Giải thích
– Tùy theo thời, quan niệm về cái đẹp khác nhau nên cách dùng chữ (tôi không thích dùng chữ “từ” vì không chính xác) khác nhau: Ngày xưa ví cái đẹp người nữ với những nhân vật cụ thể như Tây Thi, Bao Tự… Sau đó ví như bông hoa như Lý Bạch ca tụng Dương Quí Phi (được thưởng cho cả ký vàng): “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung/ Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng… “
Về sau quan niệm thay đổi, cái đẹp như thế này:

Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Ðể anh giận sao chả là nước biển…
(Nga – Nguyên Sa)

Hoặc thanh thoát như mắt nâu trầm, ngực trăng rầm:

Nụ tình nở đỏ môi nhau
Nón nghiêng che vạt mắt nâu em trầm
Rủ tôi về giữa trăm năm
Nghe trăng rụng xuống xanh rằm ngực em
(Quỳnh Nga)

Nhưng dù dùng chữ như thế nào đi nữa, các thể loại thơ mà các tác giả sử dụng vẫn không thay đổi. Thí dụ Đường thi, Lục bát.v.v.. vẫn là Đường thi, Lục bát, chứ không có vụ áp đặt Đường thi hậu hiện đại, Lục bát hậu hiện đại được?
Đường thi là Đường thi, không có chuyện Đường thi cổ thi và Đường thi hậu hiện đại. Sự thay đổi trường phái thơ là ở cái khác.
Cố tình ghép thêm vào là thừa. Không có chuyện “Đường thi hậu hiện đại” và do đó không có chuyện “Đường thi hậu hiện đại là thơ Đường luật của một số tác giả ngày nay sáng tác, không dùng chữ Hán và điển tích, ý thơ rõ ràng đọc là hiểu ngay, đối ngẫu trong thơ thanh thoát nhẹ nhàng như hai thiếu nữ đi song song bên nhau”.Đây là phát biểu áp đặt kiểu đóng hòm trước rồi chặt chân xát chết dài/ cao nhét vào cho vừa.
Không biết nhà bình thơ hiểu “thơ Hậu hiện đại” như thế nào, chứ tôi thì hiểu sơ lược như thế này.

 

 

hoadep9

 

 

 

SƠ LƯỢC VỀ THƠ HẬU HIỆN ĐẠI, TÂN HÌNH THỨC

 
— Chủ Nghĩa Hiện Đại (Post-Modernism) trong Thi Ca gồm: Hậu Hiện Đại, Tân Hình Thức, Thơ CụThể…
Khuynh hướng Tân hình thức, mà người mở đường là nhà thơ Khế Iêm, với sự phát triển ở hải ngoại như Nguyễn Đăng Thường,Vương Ngọc Minh, Hà Nguyên Du… ở trong nước như Hồ Đăng Thanh Ngọc và những người khác.
Có lý-thuyết gia theo Chủ Nghĩa Hiện Đại ở hải ngoại như ông Nguyễn Đăng Thường chủ-trương cần làm thơ bạch thoại, triệt hạ tu từ, theo sát với “bốn không” khi làm thơ: Đó là không ẩn dụ, không siêu hình, không vũ trụ, không ngôn ngữ tu từ, đề cao “Tính đời thường”hoặc “Cấu trúc đặt câu bất định”.
— Chủ Nghĩa Hiện Đại của thơ hải ngoại bao gồm tính chất “Thơ không vần, xuống hàng bất chợt”. Ta thử đọc vài bài thơ tiêu biểu:
… đưa mắt trông mong người
đi đó! Ơi người về
đâu đâu là cõi riêng
an lành vết oan khiên…
(Hoàng Hôn Mưa – thơ Hà Nguyên Du )

khi tôi động đến con chữ lập
tức ý nghĩa trỗi nhạc và nở
hoa trong tôi lập tức cảm khoái
như đêm động phòng hoa chúc… lập
(thơ Hà Nguyên Du)

Thơ Tân hình thức, một dòng thơ mới hiện đại của thi sĩ Hà Nguyên Du chuyên chở ý tưởng thi ca như sau:

ngón tay búp măng nõn nà của
em có cái móng cong cong dài
em thường vẽ lên đó một nụ
hồng màu tươi rói như màu máu

trái tim rất lãng mạn của tôi
ngón tay của em hàm chứa nguyên
trinh cuộc đời tôi như một nhiệm
mầu! cái ngón tay có cái túi

đựng hai chiếc chìa khóa dùng đề
mở hai cánh cửa thiên đàng và
địa ngục cái ngón tay trắng ngà
màu vàng sữa như một magic
(Ngón tay cái của em – Hà Nguyên Du)
— Điểm mạnh và cũng có thể là điểm yếu của Tân hình thức là sự khách quan hóa, phi cá thể hóa (impersonality).
Thử xét thêm bài thơ này:

Ngày thứ hai của tuần trăng mật
Chúng ta ngủ trong một khách sạn rẻ tiền
Những con rệp cắn anh suốt đêm

Bây giờ đây anh nhớ chúng khôn xiết
Khi mỗi lần đi ngang mộ em
(NHỮNG CON RỆP – Nguyễn Đức Tùng)

Nhận xét ta thấy: Thơ “không ngôn ngữ tu từ”, đề cao “Tính đời thường”, thơ không vần, chữ bị lóc hết da thịt, chỉ còn bộ xương: Không hình dung từ, bổ từ, phụ từ v.v… gì cả. Trần trụi.

***

Trở lại với bài thơ Đường luật của Lãng Uyển Châu mà nhà bình thơ Châu Thạch cho là Đường thi hậu hiện đại, ta nhận xét thế nào? Ta thấy vẫn đầy đủ vần điệu, niêm luật, cặp thực 3-4 và cấp luận 5-6 đối nhau, vậy làm sao đổi tên thơ là Hậu hiện đại được? Đây là bài thơ của Lãng Uyển Châu
XUÂN ĐỢI NHÉ!
Cội mai già thắm sắc vào xuân
Điểm nụ vàng xinh gấp mấy lần
Hò hẹn… yến, oanh vờn khắp giậu
Dập dìu… ong, bướm lượn đầy sân
Tết xưa tươi trẻ, lòng nao nức
Xuân mới già nua, dạ xốn xang
Nhớ thuở tình nồng yêu ấp cũ
Hương xưa ngày ấy… vẫn còn ngân
@. Nhận xét riêng
Như đã nói trên, luật của thợ Đường rất rắc rối: Các đặc trưng cơ bản nhất của thơ Đường luật (Đường thì) là “luật”, “niêm”, “đối”, “vận”. Đặc biệt nhất là các cặp 3-4 (cặp câu thực) và 5-6 (cặp câu luận) phải đối nhau. Người làm thơ Đường luật nhất thiết phải đạt được các đặc trưng ấy, nếu không sẽ thành bài thơ theo thể khác, không phải là Đường thi. Ngược lại thơ Hậu hiện đại không ngôn ngữ tu từ, cấu trúc đặt câu bất định, không có vần niêm luật, xuống hàng bất chợt”. Cả 2 thể đi ngược nhau, triệt tiêu nhau thì làm sao mà nói Đường thi hậu hiện đại được? Nhà bình thơ muốn đóng cái “hòm” trước rồi chặt chân xát chết nhét vào hay muốn “khoác áo Veston lên áo dài khăn đóng”?
Nhớ lúc trước Nhà bình thơ Châu Thạch đã phê phán nhà bình thơ Phạm Đức Nhì là “Khoác Veston lên áo dài khăn đóng” khi ông Phạm, có “chiêu thức” dùng thủ pháp “Show do not Tell”, phân tích thơ. Ở đây tôi thấy nhà binh thơ Châu Thạch cũng làm giống “y chang”: “Khoác Veston lên áo dài khăn đóng” thơ Lãng Uyển Châu. Cái khác là áo Veston của ông Phạm khoác vừa vặn, nhìn thấy đẹp/hay, còn riêng ông Châu thì không có theo thủ pháp nào cả, “vô chiêu” (Chắc ông muốn mình vô địch như Lệnh Hồ Xung, “vô chiêu thắng hữu chiêu”, xỉa bậy kiếm vào vòng tròn của đối thủ, người đang canh giữ tù nhân Nhậm Ngã Hành dưới đáy Động Đình Hồ trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung?), nên “cái áo khoác Veston” rộng thùng thình, dài phủ gối, phủ đầu khiến tác giả bài thơ bây giờ phải ngậm ngùi vì không biết thơ mình ở thể loại nào “chẳng giống ai”: Vua chẳng ra vua, mà hề chẳng ra hề. Than ôi!

 

LỜI KẾT

 

CHỮ (tôi không dùng TỪ vi không chính xác) quan trọng lắm, có thể làm chết hoặc làm tiêu tan sự nghiệp và tài sản con người. Không nhớ vụ án Minh sử triều Thanh đã làm tiêu mạng biết bao Nho sĩ Minh mà Kim Dung đã viết trong phần nhập của bộ truyện Lộc Đỉnh Ký sao? Vụ án của Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc (giết ba họ) do sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó có một phần từ văn nạn. Vụ Khổng Minh sửa đổi chữ bài phú “Đồng Tước đài” của Tào Thực, đưa đến việc thua trận Xích Bích của Tào Tháo.
Xin sơ lược về vụ nổi tiếng này:
Đây là nguyên tác bài phú Tào Thực (con) ca tụng “Đồng Tước đài” do Tào Tháo (cha) xây lên:
Liên nhị kiều vu đông tây hề,
Nhược trường không chi đế đống.
Nghĩa là:
Bắc hai cầu tây đông nối lại
Như cầu vồng sáng chói không gian
Nhưng Khổng Minh lại cố tình đổi thành:
Lãm nhị Kiều ư đông nam hề,
Lạc triêu tịch chi dữ cộng.
Nghĩa là:
Tìm hai Kiều nam phương về sống,
Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân…

– Liên (nối liền) thành Lãm (thưởng thức, thưởng lãm)
– Đem chữ “kiều” đổi ra chữ “Kiều”, Khổng Minh chủ ý lừa và chọc tức Chu Du. (Vì hai Kiều: một là vợ của Tôn Kiên, vua Đông Ngô, người thứ hai là vợ của Chu Du, đô đốc Đông Ngô)
Kết quả sự đổi chữ Chu Du tức tối, khiến Đông Ngô liên minh cùng Tây Thục, sau nhờ Khổng Minh cầu đông phong, Chu Du dùng hỏa công đốt phá binh Tào tại trận Xích Bích. Tháo thua to.
Thấy chưa, vì VĂN NẠN mà Tào Tháo nướng gần một triệu (850,000) binh sĩ, thoát chạy với vài tên cận vệ.
Hãy cẩn trọng và chính xác trong chữ nghĩa, nhất là các nhà phê bình văn thơ. Hãy bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Và cuối cùng hãy nhớ: ĐẤT NƯỚC NÀY SẼ TIÊU VONG NẾU MẤT TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA RIÊNG MÌNH.

Nguyên Lạc
…………..
[1] “XUÂN ĐỢI NHÉ” THƠ LÃNG UYỂN CHÂU: ĐƯỜNG THI HẬU HIỆN ĐẠI – Châu Thạch
http://thoduongdatviet.com/13388/141/d/nws/xuan-doi-nhe-tho-lang-uyen-chau-duong-thi-hau-hien-dai-.aspx?fbclid=IwAR0V5mtwd33fTOscc3cZp2EBSXrXj1ZJ7uI_P-H0ljZnlTdVQlE2T-03L0k
[2] Thơ Cổ Phong Và Thơ Đường – Thơ Đường Luật – Khải Chính Phạm Kim Thư
https://trankimlan.wordpress.com/2011/09/09/th%C6%A1-c%E1%BB%95-phong-va-th%C6%A1-d%C6%B0%E1%BB%9Dng-th%C6%A1-d%C6%B0%E1%BB%9Dng-lu%E1%BA%ADt/comment-page-1/

Đăng bởi nguyenlacthovan

Sống không cạn chén trọn tình. Chết ai tri kỷ rượu nghiêng rưới mồ? ...... Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi (Đối tửu - Nguyễn Du)